Like On Facebook

Showing posts with label Router. Show all posts
Showing posts with label Router. Show all posts

Thursday, December 22, 2011

Bắt đầu làm quen vơi Router Cisco


Bài này mình sẽ hưỡng dẫn các bạn tự học quản trị mạng cisco nắm được những  thao tác cấu hình Router cơ bản. Cấu hình router để cho router thực hiện nhiều chức năng mạng phức tạp là một
công việc đầy thử thách. Tuy nhiên bước bắt đầu cấu hình router thì không khó
lắm. Nếu ngay từ bước này bạn cố gắng thực hành nhiều để làm quen và nắm vững
được các bước di chuyển giữa các chế độ cấu hình của router thì công việc cấu
hình phức tạp về sau sẽ trở nên đơn giản hơn rất nhiều. Trong chương này sẽ giới
thiệu về các chế độ cấu hình cơ bản của router và một số lệnh cấu hình đơn giản.
Kỹ năng đọc và hiểu một cách rõ ràng các tập tin cấu hình là một ký năng rất quan trọng của người quản trị mạng. Cisco IOS có cung cấp một số công cụ cho ngườiquản trị mạng để thêm một số thông tin cần thiết vào tập tin cấu hình. Cũng giốngnhư những người lập trình phải có tài liệu của từng bước lập trình thì người quản trị mạng cũng cần được cung cấp thông tin càng nhiều càng tốt khi mà hệ thốngmạng do người khác quản trị.Khi hoàn tất chương này các bạn có thể:
Đặt tên cho router.
Cài đặt mật mã cho router.
Cấu hình cổng Ethernet trên router.
Thực hiện một số thay đổi trên router.
Lưu các thay đổi đó lại.
Cấu hình câu chú thích cho các cổng giao tiếp trên router.
Hiểu được tầm quan trọng của việc ghi nhận lại và lưu dự phòng cấu hình của
router.
Chế độ giao tiếp dòng lệnh CLI
Tất cả các câu lệnh làm thay đổi cấu hình router đều xuất phát từ chế cầu hình toàn
cục(global). Tuỳ theo ý bạn muốn thay đổi thay đổi phần cấu hình đặc biệt nào của router thì bạn chuyển vào chế độ chuyên biệt tương ứng. Các chế độ cấu hình chuyên biệt này đều là chế độ con của chế độ cấu hình toàn cục.Các câu lệnh được sử dụng trong chế độ cấu hình toàn cục là những câu lệnh có tácđộng lên toàn bộ hệ thống. Bạn sử dụng câu lệnh sau để di chuyển vào chế độ cấu hình toàn cục:
Sau khi Router khới động xong, Router sẽ hiện lên thông bảo sau, các bạn chọn no để vào bắt đầu cấu hình Router.

Continue with configuration dialog? [yes/no]: 
 
Chú ý: Sự thay đổi của dấu nhắc cho biết bạn đang ở chế độ cấu hình toàn cục 
Router # configure terminal
Router(config)# 
Từ chế độ cấu hình toàn cục là chế độ cấu hình chính. Từ chế độ này bạn có thể
chuyển vào các chế độ chuyên biệt như:
Chế độ cấu hình cổng giao tiếp.
Chế độ cấu hình đường truy cập.
Chế độ cấu hình router.
Chế độ cấu hình cổng con.
Chế độ cấu hình bộ điều khiển.
Khi bạn chuyển vào chế độ cấu hình chuyên biệt nào thì dấu nhắc sẽ thay đổi
tương ứng. Các câu lệnh trong đó chỉ có tác động đối với các cổng hay các tiến
trình nào liên quan đến chế độ cấu hình đó thôi.
Bạn dùng lệnh exit để trở về chế độ cấu hình toàn cục hoặc bạn dùng phím Ctrl-Z
để quay về thẳng chế độ EXEC đặc quyền.
Đặt tên cho router
Router(config)#hostname Tokyo
Tokyo (config)#
Đặt mật khấu cho router
Mật mã được sử dụng để hạn chế việc truy cập vào router. Thông thường ta luôn
đặt mật mã cho đường vty và console trên router. Ngoài ra mật mã còn được sử
dụng để kiểm soát sự truy cập vào chế độ EXEC đặc quyền trên router. Khi đó, chỉ
những người nào được phép mới có thể thực hiện việc thay đổi tập tin cấu hình
trên router.
Sau đây là các lệnh mà bạn cền sử dụng để thực hiện việc đặt mật mã cho đường
console:
Router(config)#line console 0
Router(config-line)#password <password>
Router(config-line)#login
Chúng ta cũng cần đặt mật mã cho một hoặc nhièu đương vty để kiểm soát các user truy nhập từ xa vào router và Telnet. Thông thường Cisco router có 5 đường vty với thứ tự từ 0 đến 4. Chúng ta thường sử dụng một mật mã cho tất cả các đường
vty, nhưng đôi khi chúng ta nên đặt thêm mật mã riêng cho một đường để dự
phòng khi cả 4 đường kia đều đang được sủ dụng. Sau đây là các lệnh cần sử dụng
để đặt mật mã cho đường vty:
Router(config)#line vty 0 4
Router(config-line)#password <password>
Router(config-line)#login
có hai cách đặt password để truy cập từ mod
Router>
chuyến tới mod
Router#
Cách 1: sử dụng câu lệnh sau trên mod toàn cục:
Router(config)#enable password <password>
Cách này password không được mã hóa, người dùng ở mod: Router# có thể sử dụng câu lệnh sau để thấy được password vì password không được mã hóa
Router# show running config
Cách 2: Sử dụng câu lệnh sau trên mod toàn cục:
Router(config)#enable secret <password>
Cách này khi người dùng ở mod Router# dùng câu lệnh show running config cũng không thế thấy được password vì password này đã được mã hóa.
Cấu hình cổng serial :
Sau đây là các bước cần thực hiện khi câu hình cỏng serial:
1.Vào chế độ cấu hình toàn cục.
Router # configure terminal
Router(config)#
2.Vào chế độ cấu hình cổng serial.
Router(config)# interface s0/0
s0/0 là số hiệu của từng cổng trên Router các bạn có thế nhìn thấy ghi trên cổng
3.Khai báo địa chỉ và subnet mask.
Router(config-if)# ip address 192.168.1.1 255.255.255.0
4.Đặt tốc độ clock nếu đầu cáp cắm vào cổng serial là DCE. Nếu đầu cáp là
DTE thì chúng ta có thể bỏ qua này.
Cổng serial cần phải có tín hiệu clock để điều khiển thời gian thực hiện thông tin
liên lạc. Trong hầu hết các trường hợp, thiết bị DCE, ví dụ như CSU, sẽ là thiết bị
cung cấp tín hiệu clock. Mặc định thì Cisco router lad thiết bị DTE nhưng chúng ta có thể cấu hình chúng thành thiết bị DCE. Trong môi trường làm lab thì các đường liên kết serial được kết nối trực tiếp với nhau. Do đó phải có một đầu là DCE để cấp tín hiệu clock. Bạn dùng lệnh clockrate để cài đặt tốc độ clock. Sau đây là các tốc độ clock mà bạn có thể đặtcho router (đơn vị của tốc độ clock là bit/s): 1200, 2400, 9600, 19200, 38400,56000, 64000, 72000, 125000, 148000, 500000, 800000, 1000000, 1300000,2000000, 4000000. Tuy nhiên sẽ có một số tốc độ bạn không sử dụng được tuỳ theo khả năng vật lý của từng cổng serial.
Router(config-if)# clock rate 64000
Trong khi thực hành bài lab các bạn nên đặt clock rate ở hai đâu cho đỡ thiếu sót.
5. Khởi động serial.
Mặc định các cổng của Router đều ở chế độ shutdown do đó khi cấu hình bất khi interface nào chúng ta cũng phải kích hoạt nó lên.
Router(config-if)# no shutdown
Chú ý: Nếu trong quá trình các bạn muốn sửa thông tin gì đã cấu hình thì các bạn no câu lệnh đã làm
vd: mình muốn thay đổi lại ip đã cấu hình mình là như sau:
Router(config)# interface s0/0
Router(config-if)# no ip address 192.168.1.1 255.255.255.0
Router(config-if)# ip address 192.168.1.2 255.255.255.0
Để hỗ trợ tốt trong việc khắc phục sự cố cấu hình sau này các bạn nên có một vài chữ miêu ta.
Vd: mình muốn miêu tả một interface nào đó mình sẽ làm như sau:
Router(config)# interface s0/0
Router(config)# description “mieu ta”
Cấu hình cổng Ethernet
Mỗi cổng Ethernet cũng cần phải có một địa chỉ IP và subnet mask để có thể thực
hiện định tuyến các gói IP qua cổng đó.
Sau đây là các bước thực hiện cấu hình Ethernet:
1.Vào chế độ cấu hình toàn cục.
Router # configure terminal
Router(config)#
2.Vào chế độ cấu hình cổng Ethernet.
Router(config)#interface f0/0
Router(config-if)#
3.Khai báo địa chỉ và subnet mask.
Router(config-if)#ip address 172.16.1.1 255.255.255.0
4.Khởi động cổng Ethernet.
Router(config-if)# no shutdown
Lưu file cấu hình và kiểm tra:
Chúng ta vào mod Router# để sử dụng lệnh sau đế lưu file cấu hình
Router# copy running-config
Nếu các bạn muốn dùng lênh show trên mod Router(Config)# thì thêm lệnh do ở trước lệnh show đó.
Kiểm tra tổng quát về các Interface của Router
Router(Config)# do show ip interface brief
Kiểm tra toàn bộ file cấu hình:
Router(Config)#do show running-config
Video cấu hình gồm 3 phần :
Phần 1:                http://www.youtube.com/watch?v=yZBayFdg4hY
Phần 2:                http://www.youtube.com/watch?v=9qLKVWPTqrY 
Phần 3:                http://www.youtube.com/watch?v=DJHsyPNIMhc


Cơ bản về định tuyên của Router Cisco


Bài này mình sẽ hưỡng dẫn các bạn tự học quản trị mạng cisco nắm được những kiến thức cơ bản về định tuyến. Định tuyến đơn giản chỉ là tìm đường đi từ mạng này đến mạng khác. Thông tin về những con đường này có thể là được cập nhật tự động từ các router khác hoặc là do người quản trị mạng chỉ định cho Router
Chương này sẽ giới thiệu các khái niệm về định tuyến động, các loại giao thức định tuyến động và phân tích mỗi loại một giao thức tiêu biểu.Người quản trị mạng khi chọn lựa một giao thức định tuyến động cần cân nhắc một số yếu tố như: độ lớn của hệ thống mạng, băng thông các đường truyền, khả năng của router. loại router và phiên bản router, các giao thức đang chạy trong hệ thống mạng. Chương này mô tả chi tiết về sự khác nhau giữa các giao thức định tuyến để giúp cho nhà quản trị mạng trong việc chọn lựa một giao thức định tuyến.Khi hoàn tất chương này, các bạn sẽ thực hiện được những việc sau:
• Giải thích được ý nghĩa của định tuyến tĩnh.
• Cấu hình đường cố định và đường mặc định cho router.
• Kiểm tra và xử lý sự cố liên quan đến đường cố định và đường mặc định của
   router.
• Phân biệt các loại giao thức định tuyến.
• Nhận biết giao thức định tuyến theo vectơ khoảng cách.
• Nhận biết giao thức định tuyến theo trạng thái đường liên kết.
• Mô tả đặc điểm cơ bản của các giao thức định tuyến thông dụng.
• Phân biệt giao thức định tuyến nội bộ.
• Phân biệt giao thức định tuyến ngoại vi.
• Cấu hình RIP (Routing Information Protocol – Giao thức thông tin định
tuyến) cho router.
Định tuyến là quá trình mà router thực hiện để chuyển gói dữ liệu tới mạng đích.
Tất cả các router dọc theo đường đi đều dựa vào địa chỉ IP đích của gói dữ liệu để
chuyển gói theo đúng hướng đến đích cuối cùng .Để thực hiện được điều này,
Router phải học thông tin về đường đi tới các mạng khác. Nếu router chạy định
tuyến động thì router tự động học những thông tin này từ các router khác .Còn nếu
router chạy định tuyến tĩnh thì người quản trị mạng phải cấu hình các thông tin đến các mạng khác cho router. Đối với định tuyến tĩnh ,các thông tin về đường đi phải do người quản trị mạng nhập cho router .Khi cấu trúc mạng có bất kỳ thay đổi nào thì chính người quản trị mạng phải xoá hoặc thêm các thông tin về đường đi cho router .Những loại đường đi như vậy gọi là đường đi cố định .Đối với hệ thống mạng lớn thì công việc bảo trì mạng định tuyến cho router như trên tốn rất nhiều thời gian .Còn đối với hệ thống mạng nhỏ ,ít có thay đổi thì công việc này đỡ mất công hơn .Chính vì định tuyến tĩnh đòi hỏi người quản trị mạng phải cấu hình mọi thông tin về đường đi cho router nên nó không có được tính linh hoạt như định tuyến động .Trong những hệ thống mạng lớn ,định tuyến tĩnh thường được sử dụng kết hợp với giao thức định tuyến động cho một số mục đích đặc biệt.
Hoạt động của định tuyến tĩnh
Hoạt động của định tuyến tĩnh có thể chia ra làm 3 bước như sau:
• Đầu tiên ,người quản trị mạng cấu hình các đường cố định cho router
• Router cài đặt các đường đi này vào bảng định tuyến .
• Gói dữ liệu được định tuyến theo các đường cố định này
Người quản trị mạng cấu hình đường cố định cho router bằng lệnh ip route.

h.1
                                                                 h.2
Ở h.1 người quản trị của router Hoboken cấu hình đường cố định cho router đến mạng 172.16.1.0/24 và 172.16.5.0/24 .Câu lệnh này chỉ cho router biết đường đến mạng đích đi ra bằng cổng giao tiếp nào .Ở h.2 câu lệnh này chỉ cho router biết địa chỉ IP của router kế tiếp là gì để đến được mạng đích .Cả 2 câu lệnh đều cài đặt đường cố định vào bảng định tuyến của router Hoboken.Điểm khác nhau duy nhất giữa 2 câu lệnh này là chỉ số tin cậy của 2 đường cố định tương ứng trên bảng định tuyến của router sẽ khác nhau. Chỉ số tin cậy là một thông số đo lường độ tin cậy của một đường đi .Chỉ số này càng thấp thì độ tin cậy càng cao .Do đó ,nếu đến cùng một đích thì con đường nào có chỉ số tin cậy thấp hơn thì đường đó được vào bảng định tuyến của router trước .Trong ví dụ trên,đường cố định sử dụng địa chỉ IP của trạm kế tiếp sẽ có chỉ số tin cậy mặc định là 1,còn đường cố định sử dụng cổng ra thì có chỉ số tin cậy mặc định là 0 .Nếu bạn muốn chỉ định chỉ số tin cậy thay vì sử dụng giá trị mặc định thì bạn thêm thông số này vào sau thông số về cổng ra/địa chỉ IP trạm kế của câu lệnh .Giá trị của chỉ số này nằm trong khoảng từ 0 đến 255.

Giới thiệu về giao thức định tuyến động
Giao thức định tuyến khác với giao thức được định tuyến cả về chức năng và
nhiệm vụ .Giao thức định tuyến được sử dụng để giao tiếp giữa các router với nhau.
Giao thức định tuyến cho phép router này chia sẻ các thông tin định tuyến mà nó
biết cho các router khác .Từ đó ,các router có thể xây dựng và bảo trì bảng định
tuyến của nó.
Sau đây là một số giao thức định tuyến :
• Routing information Protocol(RIP)
• Interior Gateway Routing Protocol(IGRP)
• Enhanced Inteior Gateway Routing Protocol(EIGRP)
• Open Shortest Path First(OSPF)
Còn giao thức được định tuyến thì được sử dụng để định hướng cho dữ liệu của
người dùng .Một giao thức được định tuyến sẽ cung cấp đầy đủ thông tin về địa
chỉ lớp mạng để gói dữ liệu có thể truyền đi từ host này đến host khác dựa trên cấu
trúc địa chỉ đó .
Autonmous sytem(AS) (Hệ thống tự quản )
Hệ tự quản (AS) là một tập hợp các mạng hoạt động dưới cùng một cơ chế quản
trị về định tuyến .Từ bên ngoài nhìn vào ,một AS được xem như một đơn vị .
Tổ chức Đăng ký số Internet của Mỹ (ARIN-American Regitry of Internet
Numbers)là nơi quản lý việc cấp số cho mỗi AS .Chỉ số này dài 16 bit .Một số
giao thức định tuyến ,ví dụ như giao thức IRGP của Cisco,đòi hỏi phải có số AS
xác định khi hoạt động .
Phân loại các giao thức định tuyến
Đa số các thuật toán định tuyến được xếp vào 2 loại sau :
• Vectơ khoảng cách
• Trạng thái đường liên kết .
Định tuyến theo vectơ khoảng cách thực hiện truyền bản sao của bảng định tuyến
từ router này sang router khác theo định kỳ .Việc cập nhật định kỳ giữa các router giúp trao đổi thông tin khi cấu trúc mạng thay đổi .Thuật toán định tuyến theo véctơ khoảng cách còn được gọi là thuật toán Bellman-Ford. Mỗi router nhận được bảng định tuyến của những router láng giềng kết nối trực tiếp với nó .Ví dụ như h.1 :router B nhận được thông tin từ router A .Sau đó router B sẽ cộng thêm khoảng cách từ router B đến router (ví dụ như tăng số hop lên )vào các thông tin định tuyến nhận được từ A.Khi đó router B sẽ có bảng định tuyến mới và truyền bảng định tuyến này cho router láng giềng khác là router C.Quá trình này xảy ra tương tự cho tất cả các router láng giềng khác.Chuyển bảng định tyến cho router láng giềng theo định kỳ và tính lại vectơ khoảng cách

h.1
Router thu thập thông tin về khoảng cách đến các mạng khác ,từ đó nó xây dựng
và bảo trì một cơ sở dữ liệu về thông tin định tuyến trong mạng. Tuy nhiên , hoạt
động theo thuật toán vectơ khoảng cách như vậy thì router sẽ không biết được
chính xác cấu trúc của toàn bộ hệ thống mạng mà chỉ biết được các router láng
giềng kết nối trực tiếp với nó mà thôi.Khi sử dụng định tuyến theo vectơ khoảng cách ,bước đầu tiên là router phải xác định các router láng giềng với nó .Các mạng kết nối trực tiếp vào cổng giao tiếp của router sẽ có khoảng cách là 0.Còn đường đi tới các mạng không kết nối trực tiếp vào router thì router sẽ chọn đường tốt nhất dựa trên thông tin mà nó nhận đượctừ các router láng giềng .Ví dụ như hình vẽ H.2 :router A nhận được thông tin về các mạng khác từ router B .Các thông tin này được đặt trong bảng định tuyến với vectơ khoảng cách đã được tính toán lại cho biết từ router A đến mạng đích thì đi theo hướng nào ,khoảng cách bao nhiêu. Bảng định tuyến được cập nhật khi cấu trúc mạng có sự thay đổi .Quá trình cập nhật này cũng diễn ra từng bước một từ router này đến router khác.Khi cập nhật ,mỗi router gửi đi toàn bộ bảng định tuyến của nó cho các router láng giềng Trong bảng định tuyến có thông tin về đường đi tới từng mạng đích :tổng chi phí cho đường đi ,địa chỉ của router kế tiếp . 
                                                               h.2
Một ví dụ tương tự vectơ khoảng cách mà bạn thường thấy là bảng thông tin chỉ
đường ở các giao lộ đường cao tốc .Trên bảng này có các ký hiệu cho biết hướng
đi tới đích và khoảng cánh tới đó là bao xa.

 
Design by Club IT Nghe An